Dấu hiệu ung thư cổ tử cung dễ nhận biết

Các dấu hiệu ung thư cổ tử cung mà bạn nên biết. Từ các dấu hiệu bị ung thư cổ tử cung để phát hiện ra bị mắc bệnh sớm. Khi phát hiện bị ung thư cổ tử cung sớm sẽ có khả năng chữa khỏi bệnh.

Khó nhận biết do không gây đau và không kèm theo nhiều dấu hiệu khác lạ chính là đặc điểm nguy hiểm nhất của căn bệnh ung thư cổ tử cung.

Ung thư cổ tử cung là dạng ung thư phổ biến thứ hai trên thế giới tác động đến phụ nữ, khoảng 500.000 phụ nữ được chẩn đoán và gần 300.000 người tử vong mỗi năm. Trong danh sách các căn bệnh nguy hiểm với phụ nữ, ung thư cổ tử cung xếp thứ hai.

Ung thư cổ tử cung là gì?

Bệnh ung thư cổ tử cung hình thành ở biểu mô cổ tử cung (cổ tử cung là cơ quan nối giữa âm đạo và buồng trứng). Tuổi thường gặp ung thư cổ tử cung là khoảng 30 – 59 tuổi, nhiều nhất ở độ tuổi 45 – 55 tuổi, rất hiếm ở phụ nữ dưới 20 tuổi.

Ung thư cổ tử cung phát triển khi các tế bào bất thường ở niêm mạc cổ tử cung bắt đầu nhân lên khó kiểm soát và sau đó tập hợp thành một khối u lớn. U lành tính (không phải là ung thư) là khối u không lan rộng và thường không có hại. Tuy nhiên, các khối u ác tính sẽ lây lan và phát triển thành bệnh ung thư nguy hiểm với cơ thể.

Nguyên nhân gây ung thư cổ tử cung

Ung thư cổ tử cung là quá trình viêm nhiễm kéo dài được gây ra bởi loại virus nhóm papilloma có tên gọi Human papillomavirus (HPV). Loại virus này tập trung nhiều nhất vào những năm đầu khi bắt đầu “yêu”. Trên thực tế, những loại virus này sẽ bị “đánh bật” ra khỏi cơ thể con người trong vòng 12 – 24 tháng. Nhóm phụ nữ không thể loại bỏ được chúng có nguy cơ cao mắc ung thư cổ tử cung sau này. Loại virus này lây lan từ nữ sang nam và ngược lại. Có hơn 100 loại HPV khác nhau, chiếm 70% trong số đó là HPV chủng 16, 18, 31 và 45 tiềm tàng đến 99% bệnh ung thư cổ tử cung ở chị em.

Các triệu chứng của bệnh ung thư cổ tử cung

Giai đoạn tiền ung thư thường không có triệu chứng.

Sau đó có thể xuất hiện các triệu chứng:
-   Huyết trắng dai dẳng, có mùi hôi hoặc có vấy một chút máu
-    Chảy máu bất thường trong âm đạo
-    Bạn bị chảy máu bất thường trong chu kì kinh nguyệt bình thường
-    Chảy máu sau khi quan hệ tình dục, thụt rửa hoặc khám bệnh
-    Chảy máu trong suốt thời gian dài, rong kinh
-    Chảy máu nhiều sau thời kì mãn kinh
-    Vùng xương chậu thường xuyên có cảm giác đau
-    Cảm giác đau sau khi làm “chuyện ấy”
 Biểu hiện cụ thể:
-    Kèm theo xói mòn cổ tử cung: Các bệnh nhân ung thư cổ tử cung thường kèm theo xói mòn tử cung, xói mòn cổ tử cung nghiêm trọng là nguyên nhân chính biến chứng ung thư, có thể thông qua phết tế bào cổ tử cung và các phương pháp khác để chẩn đoán tình trạng bệnh.

-    Xuất huyết khi quan hệ: sau quan hệ chảy máu là triệu chứng nổi bật nhất của ung thư cổ tử cung, khoảng 70% -80% bệnh nhân chảy máu âm đạo. Nhiều biểu hiện sau quan hệ tình dục hoặc khám phụ khoa, hoặc đại tiện phân cứng, dịch âm đạo sẽ kèm theo máu.

-    Chảy máu âm đạo bất thường: phụ nữ lớn tuổi sau thời kỳ mãn kinh, đột nhiên không rõ lý do lại đến “ chu kỳ “. Xuất huyết lượng ít, và không kèm theo đau bụng, đau lưng và các triệu chứng khác, có thể dễ dàng được bỏ qua. Đây là dấu hiệu sớm của ung thư cổ tử cung, bệnh nhân lớn tuổi có thể đi khám phụ khoa định kỳ, hoặc soi cổ tử cung để kiểm tra bệnh rõ ràng.

-    Đau: Bệnh nhân thường đau bụng thường hoặc đau thắt lưng, và đôi khi cơn đau sẽ xuất hiện ở vùng bụng trên, bắp đùi và hông, vào chu kỳ kinh nguyệt, đại tiện hoặc quan hệ tình dục thì cơn đau sẽ càng trầm trọng hơn, nhất là tính viêm xâm lấn dọc theo dây chằng chính phát triển và khuếch rộng lan dọc theo dây chằng phía dưới, hình thành viêm mãn tính mô liên kết của tử cung , khi dây chằng chính cổ tử cung dày lên, cơn đau càng nặng hơn. Mỗi lần tiếp xúc cổ tử cung, ngay lập tức sẽ dẫn đến đau vùng hố chậu, đau thắt lưng, một số bệnh nhân thậm chí còn buồn nôn và xuất hiện các triệu chứng khác.

-    Dịch âm đạo tiết ra nhiều hơn: trên lâm sàng có khoảng 75% -85% bệnh nhân tăng tiết dịch âm đạo ở những mức độ khác nhau, chủ yếu là do sự kích thích của khối u, chức năng tiết dịch của tuyến cổ tử cung vượt quá mức , sản sinh ra chất nhầy như huyết trắng . Biểu hiện của loại huyết trắng bất thường gồm có tăng số lượng nhiều ,có mùi hôi và màu sắc thay đổi , là các triệu chứng sớm của ung thư cổ tử cung, có thể thông qua soi cổ tử cung hoặc kiểm tra nguyên tố và các phương pháp khác để tiến hành tầm soát . 

Chẩn đoán ung thư cổ tử cung

Khám phụ khoa đều đặn để kiểm tra cơ thể hoặc bất kì triệu chứng gì bất thường khiến bạn lo lắng sẽ giúp bạn phát hiện được ung thư cổ tử cung sớm và có phác đồ điều trị thích hợp.

Kiểm tra và thực hiện xét nghiệm Pap smear

Khám phụ khoa thông thường giống như việc chèn một dụng cụ nhỏ, gọi là mỏ vịt, nhẹ nhàng vào âm đạo để giữ mở bức tường âm đạo, dễ dàng kiểm tra cổ tử cung và bên trong âm đạo của bạn có các dấu hiệu chảy máu, khí hư hay bất thường khác.

Xét nghiệm Pap smear không gây đau nhiều, là một thủ thuật nhỏ lấy các tế bào mẫu từ bề mặt cổ tử cung bằng tăm bông hoặc dụng cụ y tế cho phép, sau đó được gởi đến phòng thí nghiệm để phân tích. Các tế bào hình dạng bất ổn (dysplastic) hoặc các tế bào ung thư sẽ dễ dàng được phát hiện. Các chị em phụ nữ nên bắt đầu làm xét nghiệm Pap vào khoảng 3 năm sau lần giao hợp đầu tiên và sau đó lặp lại hàng năm.

Ngoài ra, bạn có thể thực hiện thêm các xét nghiệm theo yêu cầu của bác sĩ như:

Soi cổ tử cung: Bác sĩ sẽ dùng dụng cụ quan sát cổ tử cung nhằm kiểm tra bất thường trong đó.

Sinh thiết cổ tử cung: Trong quá trình sinh thiết, một mẫu nhỏ mô trong cổ tử cung được lấy ra để kiểm tra dưới kính hiển vi nhằm xác định sớm các mầm bệnh chứa tế bào ung thư.

Nạo kênh cổ tử cung hoặc khoét chóp cổ tử cung giúp xác định type HPV gây bệnh cho tế bào phủ trên bề mặt, thường gặp nhất là type: 6, 11, 16, 18, 42, 43, 44, 31, 33, 35, 45, 51, 52, 56 (có 4 type chính là 16, 18, 31, 45).

Có thể điều trị ung thư cổ tử cung với hiệu quả tốt nếu phát hiện sớm và điều trị kịp thời. Bạn cũng hoàn toàn phòng ngừa nhiễm HPV bằng cách dùng vaccin nếu chưa bị nhiễm loại virus này. Nên đi khám phụ khoa định kì, làm xét nghiệm và điều trị đúng mức các tổn thương tiền ung thư.
Xem thêm…

Các dấu hiệu, triệu chứng ung thư cổ tử cung

Triệu chứng ung thư cổ tử cung biểu hiện rõ nét ở tình trạng sức khỏe như: Thường xuyên đau vùng châu, chảy máu âm đạo bất thường, khí hư hôi, màu hồng. Cơ thể suy mòn, mệt mỏi, sụt cân.

Điều đáng sợ nhất là bệnh ung thư cổ tử cung có thể không có triệu chứng nào rõ ràng ở giai đoạn đầu. Theo Hiệp hội Ung thư Mỹ, ước tính có khoảng 12.340 trường hợp ung thư cổ tử cung ở Mỹ mỗi năm. Đáng buồn thay, khoảng 4.000 phụ nữ chết bởi căn bệnh này vì không kịp thời phát hiện những triệu chứng bệnh ở giai đoạn đầu và điều trị kịp thời.

Bệnh ung thư cổ tử cung thường diễn biến chậm, ở giai đoạn đầu hầu như bệnh không có dấu hiệu đặc biệt để nhận biết bệnh. Bạn cần đề phòng bằng việc khám phụ khoa thường xuyên và nếu thấy có dấu hiệu bất thường cần đến khám phụ khoa ngay lập tức để phát hiện bệnh kịp thời và điều trị.

Phụ nữ ở mọi lứa tuổi đều có nguy cơ bị ung thư cổ tử cung một khi họ bắt đầu có quan hệ tình dục. Và u nhú ở người (HPV) là nguyên nhân phổ biến nhất khiến các tế bào ung thư ác tính bắt đầu phát triển trong các mô của cổ tử cung. Ung thư cổ tử cung là loại ung thư phổ biến thứ hai trên thế giới mà chị em thường gặp. Mặc dù bệnh có thể gây tử vong cho chị em nhưng cũng lại là bệnh có thể ngăn ngừa và điều trị khỏi nếu được phát hiện sớm, kịp thời.

Xét nghiệm pap smear (xét nghiệm tế bào cổ tử cung) là cách tốt nhất để xác định bạn có nguy cơ mắc bệnh ung thư này hay không. Ngoài ra, nếu thấy các triệu chứng như dưới đây thì chị em cũng cần hết sức chú ý vì đó có thể là dấu hiệu cảnh báo sớm của bệnh ung thư cổ tử cung.

8 biểu hiện rõ khi bị ung thư cổ tử cung:

1. Đau vùng chậu
Nhiều phụ nữ phải chịu chứng chuột rút trong chu kì kinh nguyệt hàng tháng của mình. Tuy nhiên, chị em cần hết sức chú ý nếu thấy đau nhức ở quanh vùng chậu hoặc bị chuột rút ở những ngày không có kinh nguyệt. Bởi vì đó có thể là những triệu chứng của bệnh ung thư cổ tử cung.

2. Chảy máu bất thường

Một trong những dấu hiệu cảnh báo phổ biến nhất của ung thư cổ tử cung là chảy máu âm đạo bất thường (chảy máu âm đạo ở những ngày không phải chu kì kinh nguyệt). Tuy nhiên, mức độ chảy máu có thể khác nhau với mỗi người phụ nữ, có người chảy máu nhiều nhưng cũng có người chảy máu ít. Điểm chung là tất cả đều không rõ nguyên nhân tại sao chảy máu. Nếu bạn cũng bị chảy máu âm đạo bất thường như vậy thì hãy cảnh giác và đi khám để biết có phải do ung thư cổ tử cung gây ra hay không.

3. Bất thường trong tiểu tiện

Bất kỳ sự thay đổi trong thói quen tiểu tiện, chẳng hạn như rò rỉ nước tiểu khi hắt hơi hoặc vận động mạnh, có máu trong nước tiểu, đau khi đi tiểu... đều có thể là dấu hiệu của bệnh ung thư cổ tử cung. Trong trường hợp này, nếu đúng do ung thư cổ tử cung gây ra thì chứng tỏ các tế bào ung thư đã lan đến các bộ phận khác trong cơ thể.

4. Dịch âm đạo bất thường

Dịch âm đạo nếu có màu trong hoặc hơi trắng, không có mùi hôi và thường xuất hiện trong những ngày rụng trứng giữa chu kì kinh nguyệt. Trong trường hợp dịch âm đạo tăng bất thường, màu sắc lạ (có màu vàng, xanh như mủ hoặc lẫn máu), có mùi khó chịu... thì có thể đó là dấu hiệu của bệnh ung thư cổ tử cung.

Tuy nhiên, những bệnh ung thư khác ở "vùng kín" như ung thư buồng trứng, viêm vòi trứng... cũng có thể gây ra những dấu hiệu bất thường ở dịch âm đạo. Vì vậy, chị em phải đi khám phụ khoa mới có thể xác định được nguyên nhân chính xác nhất.

5. Chu kì kinh nguyệt bất thường

Khi cổ tử cung bị kích thích do ung thư cổ tử cung, nó sẽ tác động đến quá trình phát triển và rụng trứng. Sự cân bằng hormone cũng bị thay đổi. Kết quả là chu kì kinh nguyệt của bạn không được bình thường như trước đây. Bạn có thể bị trễ kinh, kinh nguyệt kéo dài hoặc máu kinh nguyệt có màu đen sẫm... Vì vậy, chị em không được bỏ qua dấu hiệu khác thường này.

6. Đau hoặc chảy máu sau khi "quan hệ"

Ngay cả những chị em không gặp vấn đề ở tử cung cũng có thể thấy có máu xuất hiện sau khi quan hệ tình dục. Tuy nhiên, nếu cảm giác đau và chảy máu sau quan hệ tình dục xảy ra thường xuyên hơn thì đó có thể là một vấn đề sức khỏe tiềm ẩn ở cơ quan sinh sản như ung thư cổ tử cung. Bạn nên đi kiểm tra sớm khi thấy dấu hiệu này.

7. Thiếu máu

Thiếu máu có thể xảy ra với bệnh ung thư cổ tử cung vì số lượng tế bào hồng cầu khỏe mạnh bị giảm và được thay thế bằng các bạch cầu để đẩy lùi bệnh. Thiếu máu thường khiến cho người bệnh cảm thấy mệt mỏi và cạn kiệt năng lượng, giảm cân không rõ nguyên nhân và mất cảm giác ngon miệng.

8. Đau lưng

Vùng chậu hoặc đau lưng, đặc biệt là ở khu vực lưng dưới cũng có thể là dấu hiệu cảnh báo ung thư cổ tử cung. Bạn càng phải cảnh giác hơn nếu thấy cơn đau lan xuống chân và thậm chí gây ra sưng (phù) ở chân.

Chúc các bạn luôn có một sức khỏe tốt!
Xem thêm…

Ung thư cổ tử cung có chữa được không?

Ung thư cổ tử cung có chữa được không? Trả lời: Ung thư cổ tử cung có thể chữa khỏi nếu phát hiện sớm. Phần lớn các chị em đi điều trị đều trong  tình trạng ung thư cổ tử cung giai đoạn cuối, ung thư di căn.

Ung thư cổ tử cung đang là nguyên nhân gây tử vong thứ hai ở phái nữ. Nếu được phát hiện sớm, 92% người mắc ung thư cổ tử cung có thể được chữa khỏi. Tuy nhiên, ở Việt Nam, tỷ lệ người mắc ung thư cổ tử cung được phát hiện sớm lại không cao. Xác định được các giai đoạn phát triển của ung thư cổ tử cung sẽ giúp mọi người phát hiện nó được sớm hơn.

Các giai đoạn phát triển của ung thư cổ tử cung bao gồm:

Giai đoạn 1: Nhiễm virus HPV (Human Papilloma Virus)

Trong thực tế, ở độ tuổi đôi mươi khi mới có quan hệ tình dục, có khoảng 60% đến 80% phụ nữ bị nhiễm virút HPV. Hầu hết các loại HPV đều tự biến mất và không gây tổn hại đến sức khỏe, nhưng một vài loại này lại có thể làm cho các tế bào của cổ tử cung phát triển bất bình thường  gây ra ung thư cổ tử cung.

Giai đoạn 2: Tiền ung thư

Có khoảng 10% phụ nữ bị nhiễm HPV phát triển sang giai đoạn tiền ung thư. Họ thường là người trong độ tuổi sinh đẻ từ 25 đến 29. Thời gian kể từ khi nhiễm HPV đến tiền ung thư kéo dài từ 5 đến 10 năm. Phụ nữ trong giai đoạn này vẫn bình thường và chưa được gọi là mắc bệnh “ung thư”. Giai đoạn này nếu được phát hiện sớm và có phương pháp điều trị kịp thời thì bệnh sẽ không phát triển thành ung thư.

Giai đoạn 3: Ung thư chưa/không di căn Ung thư cổ tử cung và các giai đoạn phát triển

Có khoảng khoảng 12% những người trong giai đoạn 2 sẽ phát triển thành ung thư. Ở giai đoạn này, các tế bào ung thư phát triển chủ yếu trong cổ tử cung. Nếu được điều trị hợp lý sẽ đem lại một kết quả khả quan cho người bệnh

Các phương pháp điều trị giai đoạn này có thể là: cắt tử cung, hoặc kết hợp nạo các hạch có chọn lọc. Nếu hạch bị xâm lấn, thì lại phải áp dụng phương pháp phẫu thuật tận gốc - cắt tử cung theo phương pháp Wertheim Meiges bao gồm cắt tử cung, một phần âm đạo, chu cung, và nạo vét hạch chậu hai bên. Hoặc điều trị xạ trị: xạ trị mỗi khối u đơn lẻ hoặc phối hợp xạ trị ngoài vùng chậu trước khi phẫu thuật, xạ trị ngoài vùng chậu sau mổ hoặc hóa - xạ đồng thời sau mổ. Tùy từng trường hợp có thể hóa trị.

Sau khi phẫu thuật, một số trường hợp ung thư cổ tử cung sẽ không phát triển thêm hoặc bệnh được chữa khỏi. Một số trường hợp ác tính hoặc không được điều trị, các khối u tiếp tục phát triển và di căn sang các bộ phận khác trong cơ thể.

Giai đoạn: Ung thư di căn

Trong giai đoạn này, các tế bào ung thư xâm lấn sang các bộ phận khác của cơ thể, đây chính là giai đoạn nguy hiểm nhất của bệnh. Khoảng 1% bệnh nhân ở giai đoạn 2 phát triển thành loại ung thư nguy hiểm này.

Ở giai đoạn này, các khối ung thư không thể áp dụng phương thức phẫu thuật triệt để mà phải sử dụng phương pháp: xạ trị ngoài vùng chậu đơn thuần, hóa trị đồng thời với xạ trị ngoài vùng chậu, xạ trị ngoài vùng quanh động mạch chủ bụng nếu có di căn hạch cạnh động mạch chủ bụng; xạ trị trong…

Phần lớn phụ nữ mắc bệnh ở giai đoạn này là sau thời kì mãn kinh.
Phụ nữ nên kiểm tra phụ khoa định kỳ để kịp thời phát hiện u xơ cổ tử cung

Nếu ung thư cổ tử cung được phát hiện sớm và có phương pháp điều trị kịp thời thì nó có thể được chữa khỏi hoặc thời gian sống được kéo dài đáng kể. Nếu phòng ngừa sớm thì bạn có thể không mắc phải căn bệnh này. Nhưng nếu bệnh đã phát triển thành ung thư chưa di căn mà được phát hiện sớm để điều trị kịp thời thì tỷ lệ sống có thể là 92%. Khi các giai đoạn phát triển của bệnh đã tiến xa thì tỷ lệ sống của bạn vẫn là 58%. Khi ung thư đã ở giai đoạn cuối thì bạn chỉ có 17% cơ hội sống sót.

Ung thư cổ tử cung không phải lúc nào cũng tiến triển theo 4 giai đoạn trên. Có nhiều trường hợp ung thư chỉ phát triển đến giai đoạn 2 hoặc 3 thì dừng lại không phát triển nữa và dẫn mất đi.  Tốc độ phát triển của các khối ung thư cổ tử cung cũng không giống nhau, nó cũng còn tùy thuộc vào hệ thống miễn dịch của mỗi người.

Phụ nữ ở mọi độ tuổi nên kiểm tra phụ khoa định kỳ hàng năm để kịp thời phát hiện và điều trị các dấu hiệu của ung thư cổ tử cung trước khi nó ảnh hưởng đến cuộc sống của mình và trở lên quá muốn.

Ngoài ra, hàng ngày bạn có thể sử dụng thêm các loại thực phẩm bổ trợ phòng ngừa u nang, u xơ để có một hệ miễn dịch tốt chống lại các nguy cơ của bệnh ung thư.
Xem thêm…

Xuất hiện thuốc mới trong điều trị ung thư máu

Một liệu pháp mới mở ra một triển vọng trong chữa trị bệnh bạch cầu tủy cấp tính, đây là một cách chữa trị hiệu quả cao đối với bệnh ung thư máu, được báo cáo trong nghiên cứu mới đây.
Một liệu pháp mới mở ra một triển vọng trong chữa trị bệnh bạch cầu tủy cấp tính

Các nhà nghiên cứu đã tạo một loại kháng thể (7G3), kháng thể này sẽ nhận diện và gắn vào một phân tử được gọi là CD123, phân tử biểu hiện ở mức độ cao ở tế bào mầm ung thư (LSCs), nhưng không biểu hiện ở tế bào máu thông thường. LSCs là những tế bào có thể gây ra bệnh bạch cầu cấp dòng tủy (AML) và quyết định thời gian phát triển của loại ung thư này.

Khi AML-LCSs từ bệnh nhân được cấy ghép sang chuột, những con chuột này được chữa trị với 7G3 sẽ sống lâu hơn những con chuột không được nhận kháng thể. Các nhà nghiên cứu này phát hiện ra rằng 7G3 sẽ khóa con đường tín hiệu trong các tế bào khối u, giảm sự di chuyển của AML-LSCs đến tủy xương và hoạt hóa hệ thống miễn dịch để phá hủy AML-LSCs.

Nghiên cứu này được công bố trên tạp chí Cell Stem Cell, đã mở ra một triển vọng cho việc chữa trị bệnh ung thư trong tương lai.

Richard Lock, phó giáo sư tại Viện nghiên cứu ung thư ở trẻ em tại Australia và Đại học New South Wales, đã viết trong báo cáo gần đây như sau: “Những đặc tính mới của những quần thể xác định của tế bào mầm ung thư trong một phạm vi của khối u ác tính của người, cũng như sự chống chịu đối với hóa trị và xạ trị thông thường, đã cho thấy khả năng to lớn của chúng ta cho việc tiếp cận và cung cấp một cơ sở hợp lí cho sự tiến bộ của phép chữa trị “nhắm trúng đích” đối với bệnh bạch cầu cấp dòng tủy (AML-LSC) từ những đánh giá ban đầu đối với điều trị thử nghiệm”.

Xem thêm…

Chữa bệnh ung thư máu tăng thêm phần hi vọng

Sau thành công bước đầu của ca ghép tế bào gốc nửa thuận hợp HLA chữa bệnh ung thư máu đầu tiên tại VN, Bệnh viện Truyền máu huyết học TP.HCM tiếp tục thực hiện ca ghép thứ hai vào ngày 29.5 và ca thứ ba dự kiến sẽ được thực hiện vào tuần này.

Mất cả năm để chuẩn bị

Ngày 25.4 vừa qua, ca ghép tế bào gốc nửa thuận hợp HLA (kháng nguyên hòa hợp tổ chức) chữa bệnh ung thư máu đầu tiên tại VN được thực hiện với bệnh nhân Cao Xuân Hiệp (21 tuổi, ngụ Đồng Nai) bị ung thư máu hay còn gọi là bạch cầu cấp dòng tủy.

Người cho mảnh ghép tế bào gốc là chị Cao Thị Nguyệt (23 tuổi), chị ruột của anh Hiệp.

Ngày 27.5, Bệnh viện Truyền máu huyết học TP.HCM công bố ca ghép thành công khi sau 21 ngày ghép mẫu tế bào gốc đã làm tổ, phát triển và mọc tủy trong cơ thể bệnh nhân đạt 97% tủy người bình thường.

Để thực hiện ca ghép, bệnh viện đã mất cả năm để chuẩn bị. Còn với anh Cao Xuân Hiệp, 22 ngày trước đó là một trải nghiệm cực kỳ đặc biệt.

Bệnh nhân được “đánh sập” tủy, nơi sản xuất các loại tế bào máu. Các bác sĩ đã tính toán phá hủy tủy của bệnh nhân sao cho chỉ giữ lại một phần nhỏ đủ để mảnh tế bào gốc ghép vào có thể bám, phát triển và mọc ra tủy mới.

Đồng thời, cả hệ miễn dịch của bệnh nhân cũng được vô hiệu hóa để khi ghép tế bào gốc vào, cơ thể không phản ứng.

Kể từ đó, bệnh nhân phải sống trong môi trường đặc biệt hoàn toàn vô trùng và cách ly với bên ngoài.

Mọi sinh hoạt, ăn uống, vệ sinh cá nhân của anh Hiệp đều được nhân viên y tế thực hiện theo quy trình vô trùng nghiêm ngặt. Thức ăn và nước uống đều được chiếu xạ, theo tiêu chuẩn giảm tối đa vi trùng gây bệnh. Các chỉ số sinh học của bệnh nhân được theo dõi sát sao liên tục.
Bệnh nhân được truyền ghép tế bào gốc vào cơ thể qua đường tĩnh mạch trung tâm.

“Trong suốt thời gian từ khi quyết định ghép cho đến giờ gia đình rất lo lắng. Cả gia đình chỉ biết tin tưởng vào bác sĩ. Đến giờ thì mừng lắm! Nhưng vẫn còn lo lắng”, sau hơn một tháng thực hiện ca ghép, chị Nguyệt, chị ruột của anh Hiệp, người cho tế bào gốc, còn run run kể lại.

Hi vọng mới cho bệnh nhân ung thư máu

Sau thành công bước đầu của ca ghép này, ca ghép thứ hai đã được Bệnh viện Truyền máu huyết học TP.HCM thực hiện ngày 29.5 là mẹ cho con trai. Bệnh nhân hiện vẫn đang được theo dõi sát sao.

Ca ghép thứ ba dự kiến sẽ được thực hiện vào tuần này, với bệnh nhân là bé gái 14 tuổi và người cho mảnh ghép là cha của bé.

Theo bác sĩ Phù Chí Dũng, Giám đốc Bệnh viện Truyền máu huyết học TP.HCM, hai ca ghép tiếp theo có bệnh trạng phức tạp hơn ca đầu tiên nhiều.

“Để điều trị ung thư máu, trước nay có thể hóa trị. Nhưng với phương pháp hóa trị thì bác sĩ không thể dùng liều thuốc tối đa vì như thế có thể giết hết tế bào ung thư nhưng các tế bào bình thường cũng chết. Thế nên, sau hóa trị bệnh vẫn tái phát”, bác sĩ Dũng nói.

Bác sĩ Dũng cho biết thêm, hơn 50% bệnh nhân bị ung thư máu tái phát bệnh sau 5 năm được hóa trị.

Ngoài ra, các kỹ thuật ghép tế bào gốc trước đây chỉ thực hiện được khi người cho và người nhận có tính di truyền phù hợp hoàn toàn hoặc ít nhất cũng phải phù hợp 80-90% gien.

Trong khi đó, ghép tế bào gốc tạo máu nửa thuận hợp HLA là kỹ thuật mới được áp dụng trên thế giới. Kỹ thuật này được hiểu là người cho mảnh ghép tế bào gốc chỉ phù hợp 50% gien với người nhận.

Mặt khác, với phương pháp này, các bác sĩ có thể lợi dụng thêm một phản ứng là khi ghép do người cho không có gien phù hợp hoàn toàn với người nhận nên mảnh ghép sẽ chống lại mạnh mẽ tế bào của người nhận, thế nên “tiện thể” diệt luôn tế bào ung thư.

"Nhưng nếu ca ghép không tốt, thiếu kinh nghiệm thì có thể gây ra nhiều biến chứng cho người nhận như biến chứng ở da, gan, hệ tiêu hóa..., thậm chí có thể dẫn đến tử vong", bác sĩ Dũng nói.

Khi thực hiện ca ghép cho bệnh nhân Hiệp, các bác sĩ đánh giá ước lượng tỉ lệ thành công là 70% hết bệnh.

“Kỹ thuật này đã mở ra hướng điều trị mới cho những bệnh nhân ung thư máu có nguy cơ tái phát cao, bị tái phát trong hóa trị, kháng trị với hóa trị. Nó đem lại nhiều cơ hội được ghép tế bào gốc để chữa bệnh ung thư máu hơn cho bệnh nhân. Bởi người cho có thể là cha mẹ, anh chị em ruột, hoặc họ hàng, chỉ cần có khoảng 50% gien phù hợp là ghép được. Đặc biệt khi xã hội ngày càng phát triển, gia đình có ít con (1-2 con) nên tìm ra một đứa trẻ có gien phù hợp hoàn toàn rất khó và tại Việt Nam hiện chưa có ngân hàng người sống đăng ký cho tế bào gốc”, bác sĩ Dũng đánh giá.

Tại châu Á, hai nước áp dụng kỹ thuật mới này nhiều nhất là Nhật Bản và Trung Quốc. Tính đến nay cả hai nước này mới chỉ ghép được hơn 100 ca. Singapore cũng mới ghép được ba ca. Chi phí ghép cho một ca tại Singapore lên đến 200.000 USD.
Xem thêm…

Triệu chứng và cách phòng ngừa bệnh ung thư cổ tử cung

Ung thư cổ tử cung là loại ung thư của phụ nữ, hiện nay rất thường gặp, đứng hàng thứ hai trên thế giới sau ung thư vú cả về số người mắc và tử vong.
Ung thư cổ tử cung là một trong những bệnh ung thư về phụ khoa thường gặp ở phụ nữ

Ung thư cổ tử cung là một trong những bệnh ung thư về phụ khoa thường gặp ở phụ nữ. Đây cũng là một trong những căn bệnh gây tử vong hàng đầu trong các loại ung thư ở phụ nữ hiện nay. Vẫn còn rất ít người biết rằng đây là ung thư có thể phòng ngừa được bằng những biện pháp không hề phức tạp như tiêm ngừa để phòng tránh virus gây bệnh và khám phụ khoa, làm xét nghiệm tế bào âm đạo định kỳ.

Ung thư cổ tử cung có thể xảy ra với bất kỳ lứa tuổi nào nhưng thường gặp ở phụ nữ trong độ tuổi 35 trở lên. Với phụ nữ, đây là giai đoạn cực kỳ quan trọng trong cuộc đời, bởi đây là độ tuổi mà chị em phụ nữ đảm nhiệm nhiều thiên chức lớn lao, họ đã làm vợ, làm mẹ, là người chăm sóc chính cho gia đình, đồng thời đã tạo dựng được sự nghiệp của mình.

Có rất nhiều nguyên nhân gây ung thư cổ tử cung, ngày nay các nhà khoa học đã tìm và chứng minh rằng nguyên nhân chính là do virus có tên Human papillomavirus (HPV). Ở phụ nữ có độ tuổi từ 30 đến 60 đã qua quan hệ tình dục rất dễ bị virus này xâm nhập. Ngoài ra còn có các nguyên nhân khác như:

- Quan hệ tình dục sớm (trước 18 tuổi) hoặc quan hệ với nhiều người. Yếu tố nguy cơ tăng thêm nếu bạn tình cũng có quan hệ tình dục với nhiều người khác.

- Sinh đẻ nhiều (từ trên bốn lần).

- Hút thuốc lá.

- Mắc các bệnh lây truyền qua đường tình dục, đặc biệt là viêm sinh dục do nhiễm Trichomonas, Chlamydiae trachomatis, Herpes simplex virus type 2 (HSV2).

- Suy giảm hệ thống miễn dịch, rối loạn nội tiết (mắc bệnh HIV/AIDS, viêm gan mạn, tiểu đường, bệnh lý mô liên kết…)

- Các yếu tố khác như nghèo, lạc hậu, vệ sinh kém, giống nòi bất thường, thực phẩm nghèo chất dinh dưỡng (thiếu sinh tố A, C, axít folic, trái cây, rau tươi…)

Để phòng ngừa ung thư cổ tử cung, ngày nay các nhà khoa học đã nghiên cứu ra một loại vaccine và với việc tiêm vaccin đang là biện pháp phòng ngừa rất hiệu quả. Điều đáng mừng, đây là một loại ung thư có thể phòng ngừa được. Ung thư cổ tử cung nguy hiểm và nặng nề như vậy, nhưng để phòng ngừa căn bệnh này lại không quá khó. Có hai cách phòng ngừa là tiêm vaccin để phòng nhiễm các tuýp HPV gây Ung thư cổ tử cung và khám tầm soát ung thư cổ tử cung bằng phết tế bào cổ tử cung định kỳ cho những phụ nữ đã có quan hệ tình dục. Việc phòng ngừa đạt kết quả cao nhất khi kết hợp 2 phương pháp này.

Hiện nay, tại Việt Nam đã có vaccin ngừa những tuýp HPV gây ung thư phổ biến nhất, được tiêm cho phụ nữ trẻ dưới 26 tuổi, kể cả người chưa và đã có quan hệ tình dục đều có thể tiêm.

Bên cạnh đó những chị em đã có gia đình cần thực hiện khám phụ khoa và tầm soát bằng phương pháp phết tế bào cổ tử cung (PAP smear) định kỳ, ít nhất 1 năm/1 lần, để phát hiện kịp thời và có giải pháp điều trị ở những giai đoạn sớm của bệnh.

Ung thư cổ tử cung thường không có triệu chứng ban đầu mà chỉ đến khi ung thư phát triển sang các mô gần bên thì các triệu chứng mới bắt đầu xuất hiện. mà thông thường được biểu hiện bởi các dấu hiệu của bệnh phụ khoa nên rất dễ bị bỏ qua. Tuy nhiên, nếu có các biểu hiện sau đây có thể nghi ngờ và hãy đến ngay các bác sĩ chuyên khoa phụ khoa và chuyên khoa ung bướu để được khám, theo dõi và tư vấn:

Khí hư không bình thường

Cổ tử cung là phần ngoài của tử cung mà ung thư cổ tử cung thường phát triển bên trong miệng của cổ nên khi bệnh ung thư thì các tế bào xung quanh miệng cổ tử cung bị bong tróc ra, làm sản sinh rất nhiều khí hư (huyết trắng).

Đau hoặc chảy máu âm đạo

Ung thư cổ tử cung còn có thể phát triển xung quanh cổ tử cung, khiến bề mặt của nó trở nên khô, nứt. Do đó nếu có một lực tác động vào như quan hệ tình dục hay đi bộ đều có thể làm rách những lớp nứt đó và gây chảy máu, từ đó gây nên cảm giác khó chịu cho người bệnh.

Ngoài ra người bệnh còn có thể có các dấu hiệu khác thường làm cho người bệnh không chú ý như:

Thiếu máu

Việc chảy máu âm đạo bất thường có thể làm giảm số tế bào hồng cầu và lượng ôxy trong cơ thể, khiến cơ thể vô cùng mệt mỏi.

Đau lưng hoặc chân, khung xương chậu liên tục

Ung thư cổ tử cung có thể khiến cổ tử cung sưng phồng cho đến khi nó dựa được vào các mạch màu cạnh kề, làm cản trở sự lưu thông máu từ gót bàn chân lên phần còn lại của cơ thể, gây đau đớn.

Các vấn đề về tiểu tiện

Ung thư cổ tử cung có thể khiến thận và cơ trở nên khó tiếp cận và do đó đẩy nước tiểu tới bàng quang, khiến bạn khó đi tiểu.

Chảy máu từ trực tràng hoặc bàng quang

Khi cổ tử cung sưng phồng quá to, nó có thể làm tắc nghẽn bàng quang và trực tràng gần đó, tạo ra các đường rò nhỏ trong các mô.

Giảm cân nhanh và đột ngột

Ung thư – dù là loại nào – cũng đều làm giảm cảm giác ngon miệng. Bên cạnh đó, trong giai đoạn sau của ung thư cổ tử cung, cổ tử cung có thể phồng lên và ép sát vào dạ dày, làm giảm không gian chứa cho thức ăn. Tất cả những điều này gây ra việc giảm cân nhanh và đột ngột.

Để có thể phát hiện sớm bệnh ung thư cổ tử cung, ngày nay thường dùng phương xét nghiệm Pap smear và kiểm tra cổ tử cung bằng mắt thường có sử dụng axít axêtic (VIA) để tầm soát và sàng lọc phát hiện các tổn thương tiền ung thư

- Phương pháp kiểm tra cổ tử cung bằng mắt thường có sử dụng axít axêtic áp dụng tốt nhất cho phụ nữ từ 30 – 49 tuổi, nhóm tuổi này cũng là nhóm có nguy cơ cao nhất bị Ung thư cổ tử cung. kiểm tra cổ tử cung bằng mắt thường có sử dụng axít axêtic đơn giản về kỹ thuật thực hiện, phương tiện chỉ cần một chiếc đèn pin và dung dịch axít axêtic (giấm) cho nên được đánh giá là phương pháp phù hợp cho những nơi có điều kiện nguồn lực hạn chế. Hơn nữa, kiểm tra cổ tử cung bằng mắt thường có sử dụng axít axêtic cho kết quả ngay nên có thể thực hiện điều trị hoặc chuyển tuyến ngay trong cùng một lần đến sàng lọc. Nhờ đó, bệnh nhân không phải đến cơ sở y tế nhiều lần.

- Phương pháp Pap smear đã được thực hiện trên toàn thế giới trong hơn 50 năm qua, là phương pháp thường quy trong sàng lọc định kỳ cho phụ nữ ở các nước phát triển, góp phần giảm tới 70-80% ca Ung thư cổ tử cung tại các nước này từ những năm 1960. Tuy nhiên, những đòi hỏi cao về phương tiện kỹ thuật và kinh phí để phổ biến và duy trì phương pháp này lại không phù hợp với những nước có điều kiện nguồn lực hạn chế, trong đó có Việt Nam.

Khám phụ khoa định kỳ 

Nguyên nhân chính gây ung thư cổ tử cung là loại virus có tên Human papillomavirus. Virus này thường gây nhiễm ở phụ nữ có độ tuổi từ 30 đến 60 đã qua quan hệ tình dục. Đặc biệt, chủng 16 và 18 loại virus này là thủ phạm gây ung thư cổ tử cung. Tuy nhiên hiện nay, phương pháp phết tế bào âm đạo- PAP’s có thể giúp phát hiện ung thư ngay từ lúc bệnh còn ở giai đoạn sớm. Nhờ đó cơ hội chữa trị mà không phải cắt bỏ tử cung của bệnh nhân ở mức cao. Vì thế, những phụ nữ đã có quan hệ tình dục hoặc trong độ tuổi có nguy cơ nhiễm bệnh, cần đến các bệnh viện chuyên khoa phụ sản mỗi năm ít nhất một lần để thăm khám.
Xem thêm…

Diễn biến phát triển của bệnh ung thư cổ tử cung

Ung thư cổ tử cung được hiểu đơn giản là có khối u ác tính của cổ tử cung. Dấu hiệu nhận biết ung thư cổ tử cung thường là chảy máu bất thường của âm đạo. Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp, các triệu chứng bệnh không rõ ràng nên việc chẩn đoán thường gặp khó khăn. Thường thì, qua kỹ thuật sàng lọc hiện đại, các bác sĩ mới xác định được bệnh ung thư cổ tử cung đã phát triển đến giai đoạn nào.

Vì vậy, nếu được chẩn đoán ở giai đoạn sớm và thực hiện xạ trị hoặc hóa trị liệu kịp thời thì khả năng khỏi bệnh sẽ cao hơn rất nhiều, đồng thời ngăn chặn sự phát triển của bệnh. Một trong các xét nghiệm sàng lọc thường xuyên được thực hiện để chẩn đoán sớm ung thư cổ tử cung là xét nghiệm Pap smear.

Tuy nhiên, nếu bệnh đã sang giai đoạn nặng, phương pháp điều trị được lựa chọn thực hiện là phẫu thuật.

Cổ tử cung là một phần rất hẹp của tử cung, nằm ở phía trên của âm đạo. Ung thư cổ tử cung phát triển qua 5 giai đoạn chính (các giai đoạn được đánh số từ 0-4), với mỗi giai đoạn chính đều có các giai đoạn phụ.
Dấu hiệu nhận biết ung thư cổ tử cung thường là chảy máu bất thường của âm đạo.

Giai đoạn 0
Đây là giai đoạn đầu của ung thư cổ tử cung còn được gọi là ung thư biểu mô tại chỗ. Trong giai đoạn này, các tế bào ung thư vẫn còn ở lớp bề mặt và chưa thâm nhập vào sâu bên trong các mô.

Giai đoạn I
Khi các tế bào ung thư đã đi sâu hơn và không nằm bên ngoài nữa thì bệnh chuyển san giai đoạn I.

- Giai đoạn IA: Ở giai đoạn phụ này, các tế bào ung thư chỉ có thể xác định được bằng cách kiểm tra dưới kính hiển vi.

- Giai đoạn IA1: Trong giai đoạn này, tế bào ung thư xâm nhập vào trong cổ tử cung 3mm.

- Giai đoạn  IA2: Lúc này, các tế bào ung thư đi sâu vào cổ tử cung từ 3-5mm và nhỏ hơn 7mm về bề rộng.

- Giai đoạn IB: Đây là khi các tế bào ung thư có thể được xác định mà không cần nhìn qua kính hiển vi.

- Giai đoạn IB1: Trong giai đoạn này các tế bào ung thư đã phát triển nhưng chưa lớn hơn 4cm.

- Giai đoạn IB2: Trong giai đoạn này các tế bào ung thư lớn hơn 4cm.

Giai đoạn II
Trong giai đoạn này của ung thư cổ tử cung, tế bào ung thư đã xâm lấn các mô lân cận, nhưng bị hạn chế trong khu vực vùng chậu.

- Giai đoạn IIA: Lúc này, tế bào ung thư đã lan rộng đến phần trên nhưng chưa ảnh hưởng đến phần dưới của âm đạo.

- Giai đoạn IIB: Đây là khi tế bào ung thư đã lan rộng đến các mô ở dạ con.

Giai đoạn III
Ở giai đoạn này, các tế bào ung thư đã ảnh hưởng đến các khu vực dưới của âm đạo.

- Giai đoạn IIIA: Chỉ có các khu vực dưới của âm đạo bị ảnh hưởng và ung thư được giới hạn ở khu vực đó.

- Giai đoạn IIIB: Trong giai đoạn này, tế bào ung thư đã lan rộng ra thành vùng chậu và ngăn cản dòng chảy của nước tiểu tới bàng quang.

Giai đoạn IV
Trong giai đoạn này, các khu vực khác của cơ thể ngoài cổ tử cung cũng bị ảnh hưởng. Lúc này, bệnh ung thư cổ tử cung đã trải qua các giai đoạn trên và trở chuyển sang di căn.

- Giai đoạn IVA: Bàng quang hoặc trực tràng bị ảnh hưởng trong giai đoạn này.

- Giai đoạn IVB: Giai đoạn này của ung thư được coi là giai đoạn nặng và hết khả năng chữa trị bệnh. Thậm chí các cơ quan ở xa tế bào ung thư cũng có thể bị ảnh hưởng nặng nề.
Xem thêm…

Thuốc tránh thai làm giảm nguy cơ ung thư buồng trứng?

Đây là kết quả nghiên cứu mới được công bố mới đây của 1 phòng nghiên cứu Mỹ, được đăng trên tạp chí Obstretics & Gynecology.

Để thực hiện nghiên cứu này, Laura Havrilesky cùng các cộng sự của mình ở trường Đại học Y khoa Duke (Durham) đã thực hiện 55 thí nghiệm nhằm xác định mối liên hệ giữa việc sử dụng thuốc tránh thai và nguy cơ ung thư buồng trứng. Kết quả cho thấy những phụ nữ dùng thuốc tránh thai có khả năng giảm nguy cơ ung thư buồng trứng đến 27% so với những người không sử dụng.

Đáng ngạc nhiên hơn, các nhà khoa học đã chỉ ra rằng có sự tác động lớn của thời gian sử dụng đến hiệu quả phòng tránh bệnh: nguy cơ ung thư buồng trứng giảm hơn 50% với những phụ nữ sử dụng trên 10 năm. Cụ thể hơn, nguy cơ mắc ung thư giảm 23% nếu sử dụng thuốc từ 13 đến 60 tháng, và 35% nếu sử dụng từ 61 tháng đến 10 năm.

Ngoài ra, dựa trên một số nghiên cứu tương tự đã chứng minh mối liên hệ giữa nguy cơ ung thư buồn trứng và độ tuổi khi sử dụng thuốc tránh thai lần đầu, các tác giả đã tính toán được rằng khả năng mắc ung thư giảm 37% nếu bệnh nhân bắt đầu sử dụng thuốc trước 20 tuổi, 29% nếu bắt đầu dùng trong khoảng 20 đến 24 tuổi, và 33% đối với nhóm 25 đến 30 tuổi.

Mặc dù các số liệu nghiên cứu đều khả quan, các tác giả của công trình nghiên cứu cũng nhắc nhở mọi người vẫn nên "cảnh giác với những nguy cơ mà thuốc tránh thai có thể gây ra khi sử dụng lâu dài.".
Xem thêm…

Copyright
Tư vấn chữa bệnh Online